Quản lý khu đô thị mới: Được và chưa được
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, cả nước hiện có: 689 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 3 đô thị loại I, 11 đô thị loại II, 17 đô thị loại III và 58 đô thị loại IV; 598 thị trấn loại V; 150 khu công nghiệp tập trung, 18 khu kinh tế cửa khẩu, 10 đô thị mới.
Dân số đô thị từ 11,87 triệu người (1986) tăng lên 20,86 triệu người, tăng 19,3%; tỉ lệ đô thị hoá các địa phương tăng 25,8%. Trong đó, hai địa phương phát triển nhanh là Hà Nội, TP HCM. Từ năm 2000 đến 2003, Hà Nội phát triển gần 3 triệu m2 nhà ở, TP HCM gần 7 triệu.
Các KÐT phát triển cả về số luợng và qui mô từ hàng chục, hàng trăm ha, như: Linh Ðàm, Ðịnh Công, Trung Hoà, Nhân Chính, Mỹ Ðình, Việt Hưng... lên đến hàng nghìn ha, như: dự án KÐT Bắc sông Hồng, Hà Nội (gần 8.000 ha), KÐT Nam Sài Gòn (2.600 ha), KÐT Bắc Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (4.300 ha)... Việc đầu tư xây dựng một KÐT cần vốn lớn. Tính riêng xây dựng kết cấu hạ tầng ước 1 triệu USD/ha; nếu xây dựng đồng bộ cần 5 đến 6 triệu USD/ha. Theo các nhà đầu tư, vốn không phải là vấn đề "nan giải". Ví dụ: dự án KÐTM Linh Ðàm, Ðịnh Công do HUD làm chủ đầu tư, Nhà nước không cấp kinh phí, mà còn thu được ngân sách sau khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng. Kết quả này, là nhờ cơ chế chính sách của TP Hà Nội đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án đạt ba lợi ích: lợi ích Nhà nước, lợi ích của dân và lợi ích của doanh nghiệp.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân, cái được lớn nhất khi ra đời các KÐTM là cải thiện nơi ở cho người dân ở các đô thị phát triển lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... Xoá bỏ "mặc cảm" ở chung cư cao tầng, từng bước "giãn" dân số nội đô đã quá tải; xây dựng được quy hoạch (QH) và quản lý xây dựng theo QH dần vào nền nếp; xây dựng được các cơ chế chính sách trong việc quản lý đất đai, TTXD; công tác GPMB thu hồi đất, quản lý đầu tư xây dựng; huy động được các nguồn lực trong xã hội, như: (đất đai, tài chính trong xã hội, các nhà đầu tư trong và ngoài nước...); hình thành thị trường bất động sản; kích thích ngành kiến trúc, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, nội thất... phát triển theo hướng hiện đại, chất lượng. Các nhà quản lý ở trung ương cũng như địa phương thấy được tính cấp thiết việc xây dựng QH tổng thể, QH chi tiết ở địa phương cũng như giữa các địa phương với nhau để xây dựng QH vùng, định hướng phát triển kinh tế-xã hội trong 5, 10 năm và 20 năm tới.
Ông Trần Ngọc Chính, Vụ trưởng Vụ kiến trúc, quy hoạch (Bộ XD) cho biết, đến nay, định nghĩa thế nào là 1 KÐTM; qui định về qui mô tối thiểu, cơ cấu khu ở, vốn đầu tư, cấp quản lý... đều chưa có. GS Phạm Sĩ Liêm cho rằng, KÐTM không chỉ đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ cho "nó" mà còn có ngành kinh tế, thương mại, hay công nghiệp hoạt động mang tính "đặc trưng" của khu đó, thu hút nhiều lao động. Các chuyên gia đã chỉ ra tồn tại của các KÐTM là: chưa xác định địa điểm bảo đảm phát triển thuận lợi; cơ cấu sử dụng đất hoặc phân khu chức năng trong QH còn cứng nhắc; công tác quản lý quy hoạch- kiến trúc và TTXD chưa được quan tâm; thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều phiền hà, chưa kích thích các nhà đầu tư; chất lượng, môi trường cảnh quan còn thấp; phần lớn các KÐTM chưa có kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào, gây khó khăn cho nhà đầu tư giải quyết vấn đề giao thông, cấp thoát nước, điện...; việc bàn giao, duy tu bảo dưỡng và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng và nhà chung cư còn bất cấp; việc phân cấp quản lý giữa chủ đầu tư với cơ quản lý nhà nước ở địa phương về các dịch vụ công ích chưa rõ ràng; việc tổ chức quản lý các KÐTM còn mới, chưa có qui định thống nhất, chưa có phân loại qui mô. Bộ Xây dựng cho rằng, cần phải mất nhiều năm mới xây dựng được chế tài quản lý việc này.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân, các ngành chức năng cũng như các địa phương phải đẩy nhanh tốc độ làm QH, trước tiên là QH tổng thể, nhân rộng làm QH chi tiết; xây dựng đúng theo QH. Ðể đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của người tiêu dùng và chủ đầu tư, Bộ Xây dựng đưa ra những giải pháp: Xây dựng các văn bản pháp luật điều tiết về QH xây dựng và quản lý phát triển các KÐTM; nâng cao chất lượng các đồ án QH xây dựng KÐTM (thông qua đào tạo, học hỏi kinh nghiệm các chuyên gia nước ngoài); có hướng dẫn nội dung cụ thể các đồ án QH xây dựng KÐTM; kiến nghị với Nhà nước, quan tâm vốn đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các KÐTM, có cơ chế thích hợp thu hút vốn đầu tư cho các công trình dịch vụ công cộng, như trường học, y tế, nhà trẻ... nâng cao trách nhiệm và quyền hạn cho chủ đầu tư trong việc quản lý xây dựng các công trình nhà ở của dân trong các KÐTM.
(Theo Hanoinet)
Mạng kiến trúc xây dựng Việt Nam
[Trở về]
|