Quy hoạch vùng Thủ đô hướng tới sự phát triển bền vững
Sáng 16/9, Phó Chủ tịch UBNDTP Ðỗ Hoàng Ân và đại diện các sở, ngành đã có buổi làm việc với Bộ Xây dựng, cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ phối hợp với Hà Nội, các tỉnh thành và các bộ ngành liên quan nghiên cứu xác lập quy hoạch vùng Thủ đô.
Tại buổi làm việc, nhiều vấn đề đã được đưa ra bàn thảo nhằm mục đích quy hoạch đưa Hà Nội và các tỉnh trong vùng Thủ đô phát triển bền vững, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, gây lãng phí trong thời gian qua. Ðồng thời hướng tới mục tiêu đưa Hà Nội vươn lên sánh ngang tầm với thủ đô các nước trong khu vực và trên thế giới.
Sự cần thiết phải quy hoạch vùng Thủ đô
Phạm vi vùng Thủ đô Hà Nội gồm thành phố Hà Nội và 7 tỉnh xung quanh, bao gồm: Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nam. Tổng diện tích toàn vùng khoảng 13.370 km2 với dân số gần 12 triệu người. Ðây là một trong những vùng chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của quốc gia.
Vùng Thủ đô, trong đó có Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế-chính trị-hành chính-văn hoá-giáo dục-KHKT-an ninh quốc phòng của cả nước và là đầu mối giao lưu quốc tế; là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của cả vùng và của cả đất nước. Ðây là khu vực có nhiều thuận lợi về giao thông, gồm đường sắt, đường thuỷ,đường bộ và hàng khôngnên dễ dàng thu hút đầu tư nước ngoài cũng như trong nước vào các khu công nghiệp; Hầu hết các tuyến đường quốc lộ chính đều hướng về Thủ đô như quốc lộ 1, 2, 3, 5, 6, 8, 32, 39 và 10 và các tuyến đường sắt quốc gia đều đi qua như tuyến đường sắt HàNội-TPHCM, Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội-Lào Cai, Hà Nội-Hải Phòng; sân bay quốc tế Nội Bài... Ngoài ra còn có hệ thống các sông chính như sông Hồng, sông Cầu, sông Ðuống và sông Thái Bình...; Có điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Ðất đai phì nhiêu do phù sa sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, thích hợp cho cả cây trồng hàng năm và cây lâu năm, nhất là những giống cây đặc sản và các giống cây, con có giá trị xuất khẩu; Có tiềm năng về các nghề thủ công truyền thống như các làng nghề ở Bắc Ninh, Hà Tây, Hải Dương và Hà Nam... Ngoài ra, tiềm năng về du lịch cũng là yếu tố cần được tính tới. Ngoài Hà Nội có mật độ di tích khá cao (40 di tích/100 km2) thì chỉ riêng vùng Bắc Ninh đã có khoảng 300 di tích, trong đó có 193 di tích đã được Nhà nước xếp hạng với mật số 37,7 di tích/km2. Hưng Yên có 132 di tích đã được Nhà nước xếp hạng. Hà Tây có 320 di tích và là một trong số rất ít tỉnh, thành có số di tích lịch sử nhiều nhất nước. Các tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hoà Bình cũng có rất nhiều di tích...
Mặt thuận lợi thì rất nhiều, tuy nhiên đối với Thủ đô Hà Nội trong những năm gần đây do quá trình đổi mới về kinh tế, thu hút đầu tư lớn nên có mức tăng trưởng mạnh. Sự hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung và các khu công nghiệp địa phương đã thu hút một lượng lớn dân cư từ các tỉnh trong cả nước về Thủ đô, dẫn đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của Hà Nội đang bị quá tải và gặp rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, trường học, bệnh viện, công viên cây xanh, nơi vui chơi giải trí, giao thông, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường...
Ngay từ những năm 1993-1994, nhiều dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH vùng, các tỉnh, thành phố đã được nghiên cứu quy hoạch. Tuy nhiên quy hoạch xây dựng vùng ít được chú ý. Do đó, nhiều dự án mặc dù được phê duyệt nhưng rất thụ động trong khâu triển khai do chưa có quy hoạch xây dựng một cách chiến lược trên toàn vùng.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có ý kiến chỉ đạo về sự cần thiết phải lập quy hoạch vùng tại Thông báo số 43/TB-VPCP ngày 2/3/2004 nêu rõ: "Trong thời gian qua, vùng Thủ đô Hà Nội đã phát triển khá nhanh, liên tục và toàn diện cả về KT-XH, hạ tầng xã hội và tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, góp phần quan trọng vào nhịp độ phát triển chung của vùng Bắc Bộ và của cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đã bộc lộ một số nhược điểm, bất cập. Quy hoạch xây dựng tại các địa phương đã có, nhưng sự phối hợp trong quy hoạch và quản lý quyhoạch chưa được tốt; đầu tư phát triển các khu công nghiệp và hệ thống giao thông còn manh mún, chưa thật sự có hiệu quả, còn gây lãng phí; quy hoạch chủ yếu mới chỉ mang tính định hướng chứ chưa đủ quy hoạch chi tiết và quy hoạch tổ chức không gian các công trình kiến trúc."
Từ những cơ sở phân tích trên cho thấy sự phát triển của các tỉnh xung quanh sẽ ảnh hưởng lớn đến Hà Nội và ngược lại. Tuy nhiên, để có sự phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững cho Thủ đô và các tỉnh xung quanh thì một số vấn đề liên quan đến quy hoạch và xây dựng đô thị, đào tạo lực lượng lao động, đặc biệt là các vấn đề liênquan đến phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội không thể giải quyết trong phạm vi từng vùng riênglẻ mà cấn có sự liênquan và phối hợp của toàn vùng bởi các công trình như khu công nghiệp, khu đô thị mới, khu chôn lấp rác thải,công viên, nghĩa trang... không chỉ đáp ứng cho nhucầu của nhân dânThủ đô mà còn phụcvụ cho nhân dân toàn vùng.
Tổ chức quy hoạch vùng thế nào?
Tổ chức quy hoạch vùng thế nào cho hợp lý, khoa học để Hà Nội và các tỉnh trong "chùm" đều có điều kiện phát triển là điều mà Hà Nội và các tỉnh cũng như các bộ, ngành cần phải có sự phối hợp chặt chẽ. Cũng tại thông báo của Văn phòng Chính phủ nói trên, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: đề cương, định hướng quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô cần sớm được lập dựa trên các nguyên tắc: xác định rõ phạm vi về nội dung, không gian và thời gian quy hoạch. Cần thể hiện rõ đây là quy hoạch xây dựng, không phải là quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và quy hoạch các ngành kinh tế-kỹ thuật; chú trọng liên ngành, liên vùng; Quy hoạch phải xác định tầm nhìn chiến lược dài hạn 20, 30 và 50 năm.
Trong buổi làm việc sáng 16/9 giữa Bộ Xây dựng và UBND TP Hà Nội, với nhiệm vụ được Chính phủ giao là cơ quan đầu mối nghiên cứu lập quy hoạch vùng Thủ đô, lãnh đạo Bộ Xây dựng cũng khẳng định: quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững, lâu dài của Thủ đô và các tỉnh, thành trong vùng; phát triển phù hợp với quy hoạch tổng thể KT - XH toàn vùng, trên cơ sở quy hoạch của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và của các tỉnh trong vùng, quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Việt Nam và quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2020. Từ đó có định hướng đúng đắn cho việc xác định các chương trình, dự án đầu tư xây dựng có ý nghĩa chiến lược của vùng trong các giai đoạn trước mắt và lâu dài; Quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý đầu tư xây dựng phát triển, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, xét duyệt các dự án đầu tư, huy động vốn đầu tư; Bên cạnh đó, việc quy hoạch vùng Thủ đô còn nhằm mục đích điều phối, kiểm soát sự phát triển, từng bước khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, xây dựng lộn xộn ở một số khu vực trong vùng Thủ đô. Nội dung nghiên cứu quy hoạch sẽ tập trung vào các lĩnh vực: điều kiện tự nhiên; hiện trạng KT-XH; nguồn lực và ưu thế phát triển; các cơ sở kinh tế kỹ thuật và xã hội tham gia vào vai trò phát triển vùng; dự báo phát triển vùng; định hướng không gian; phân bố mạng lưới dân cư đô thị nông thôn...
Nhiều ý kiến của các đại biểu phía Bộ Xây dựng cho rằng, với mong muốn Thủ đô ngày càng phát triển, đủ tầm vóc sánh ngang với thủ đô các nước trong khu vực và trên thế giới thì bản thân lãnh đạo thành phố cũng cần xác định rõ: lấy Hà Nội làm "hạt nhân" phát triển thì quy mô phát triển sẽ tới đâu để từ đó các cơ quan nghiên cứu mới có cơ sở để tiến hành lập quy hoạch một cách hợp lý, khoa học.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện nghiên cứu quy hoạch vùng Thủ đô
Theo đó UBND TP Hà Nội chỉ đạo thực hiện triển khai:
- Giải toả các cơ sở kinh tế, dịch vụ gây ô nhiễm ra khỏi đô thị.
- Hạn chế việc tăng dân số cơ học ở các quận trung tâm theo quyhoạch chung phê duyệt.
- Ưu tiên xây dựng các đường vành đai và các trục giao thông hướng tâm, tăng tỷ lệ giao thông tĩnh.
- Phát triển và bảo vệ chặt chẽ vành đai xanh, cân bằng sinh thái xung quanh Thủ đô.
- Phát triển hệ thống giao thông tốc hành vàkết cấu ha åtầng diện rộng cho toàn vùng; nghiên cứu phát triển hệ thống giao thông công cộng: xe buýt, tàu điện chạy nhanh, tàu điện trên cao...
- Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các dự án xây dựng các khu đô thị mới tại vùng veđô, ưu tiên thực hiện phát triển đô thị đô thị lên khu vực phía Tây và phía Bắc Thăng Long.
Giao UBND các tỉnh trong vùng Thủ đô:
- Phối hợp với các Bộ, ngành liên qua xây dựng, triển khai các chương trình, dự án chuyên ngành có liên quan đến địa phương.
- Chỉ đạo lập quy hoạch xây dựng vùng, tỉnh với các nội dung: Triển khai quy hoạch xây dựng hành lang các quốc lộ đi qua địa phận của tỉnh; Quy hoạch xây dựng hệ thống các đô thị và khu dân cư nông thôn gắn với quá trình đẩy mạnh CNH-HDDH nông thôn; Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tỉnh gắn với quy hoạch tổng thể phát triển vùng Thủ đô; Phối hợp với Hà Nội có giải pháp đồng bộ để giải quyết cơ bản tình trạng di dân tự do từ các tỉnh về Hà Nội; Phối hợp với Hà Nội và giữa các tỉnh trong vùng để lập quy hoạch tổng thể KT-XH phù hợp với quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô.
|
Mạng kiến trúc xây dựng Việt Nam
[Trở về]
|