Khởi động mở rộng vùng Thủ đô Hà Nội, ưu tiên hướng Tây Nam, Tây và Tây Bắc.
 |
Hà Nội sẽ rộng gấp nhiều lần hiện tại.
|
Ngày 29/9, Hà Nội và 7 tỉnh thành phố mở hội thảo đề xuất các bước triển khai quy hoạch xây dựng Vùng thủ đô Hà Nội.
Tại buổi Hội thảo, ông Đào Ngọc Nghiêm, Giám đốc Sở QH-KT cho rằng, để tạo động lực phát triển, thành phố cần xem xét đến mối quan hệ giữa Hà Nội với các tỉnh, thành bạn trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhất là với 2 cực tăng trưởng Hải Phòng, Hạ Long. Từ đây, ưu tiên hướng phát triển của Hà Nội trong tương lai về hướng Tây Nam, Tây và Tây Bắc.
Tại Hội thảo, đại diện của các sở, ngành đều có chung quan điểm: sự phát triển, quy hoạch của Hà Nội hiện nay chưa tương xứng với vai trò là trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc tế của một quốc gia gần 80 triệu dân.
Theo Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 11/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm 7 tỉnh, thành là Hà Nội, Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam với tổng diện tích 13.370km2, dân số 11,8 triệu người. Hệ thống đô thị của Vùng Thủ đô được xác định gồm 87 đô thị trong đó có hai thành phố Hà Nội và Hải Dương, 8 thị xã là Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Phủ Lý, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hoà Bình. Ngoài ra Vùng Thủ đô có 77 thị trấn... Theo đánh giá của Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (Bộ Xây dựng), Vùng Thủ đô có địa hình đa dạng: đồng bằng cao; địa hình đồi thoải dọc theo các dãy núi Tam Đảo, Ba Vì. Hệ thống sông Cầu, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Đuống, sông Nhuệ. Với địa hình này Vùng Thủ đô có lợi thế trong quy hoạch phát triển không gian hài hoà giữa đô thị và tự nhiên.
Vùng Thủ đô có hệ thống lịch sử văn hoá dày đặc (Bắc Ninh, Hà Tây), mật độ làng nghề truyền thống cao nhất nước và chất lượng nguồn nhân lực cao (có 63 trường ĐH). Trong vùng hiện đã hình thành một số khu, điểm công nghiệp như: Bắc, Nam Thăng Long, Sài Đồng, Tiên Sơn, Như Quỳnh, Phố Nối... Đây là những điều kiện quan trọng để xây dựng một Vùng Thủ đô phát triển hiện đại gắn với sự bền vững trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, đô thị
Tuy nhiên, theo KTS Trần Ngọc Chính, Vụ trưởng Vụ Kiến trúc-Xây dựng (Bộ Xây dựng), khó khăn của Hà Nội hiện nay là lượng dân di cư từ các nơi khác đổ về Thủ đô ngày càng nhiều, khiến hạ tầng kỹ thuật bị quá tải, không đáp ứng kịp nhu cầu về nhà ở, công trình dịch vụ công cộng. Trong khi đó, các tỉnh đất chật, người đông, hạ tầng kỹ thuật yếu kém cũng là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự phát triển không cân đối giữa Hà Nội với 6 tỉnh còn lại trong vùng. Từ đó cho thấy, sự phát triển của các tỉnh xung quanh sẽ ảnh hưởng lớn đến Thủ đô và ngược lại, do vậy cần có sự liên kết toàn vùng cũng như giữa Vùng Thủ đô với các Bộ, ngành trong việc giải quyết các vấn đề cơ sở hạ tầng và xã hội như khu công nghiệp, đô thị mới, nguồn nước mặt, nhà máy nước, trạm xử lý rác thải...
Một khó khăn khác mà PGS.TS Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị (Bộ Xây dựng) nêu lên là hiện nước ta vẫn chưa có cơ chế vùng trong khi ở nhiều nước, cấp độ vùng là phổ biến như vùng Ile de France, Normandi (Pháp), Merseyside (Anh)...Điều này giúp cho các quốc gia này dễ dàng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong phạm vi toàn vùng chứ không chỉ là công việc của từng địa phương đơn lẻ.
Ông Đào Ngọc Nghiêm, Giám đốc Sở QH-KT cho biết, để tiến tới quy hoạch thống nhất toàn Vùng, Hà Nội đã triển khai nghiên cứu trên 140 đồ án quy hoạch chi tiết về công nghiệp, cây xanh, đô thị mới, hạ tầng kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và quản lý đô thị. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ kỹ thuật thiết kế còn thiếu, hạn chế về chuyên môn trong khi công tác triển khai phối hợp giữa các địa phương vẫn còn trên giấy đã hạn chế không nhỏ đến việc hoàn chỉnh quy hoạch cả vùng nói chung và Thủ đô nói riêng. Từ đây, ông Nghiêm cho biết, trong thời gian tới, Hà Nội sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu quy hoạch chi tiết khu vực Bắc sông Hồng, hai bên sông Cà Lồ và dự án hạ tầng kỹ thuật mang tính chất liên vùng, đồng thời rà soát quy hoạch các quận, huyện.
Hiện quy mô của Hà Nội là 921km2 và hơn 3 triệu dân. Để tạo động lực phát triển, ông Nghiêm cho rằng, Thành phố cần xem xét đến mối quan hệ giữa Hà Nội với các tỉnh, thành bạn trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhất là với 2 cực tăng trưởng Hải Phòng, Hạ Long. Từ đây, ưu tiên hướng phát triển của Hà Nội trong tương lai về hướng Tây Nam, Tây và Tây Bắc. Trong đó, cần chú trọng đến những dự án các địa phương lân cận đang triển khai như Khu đô thị mới Tiền Phong, Quang Minh (Vĩnh Phúc), khu công nghiệp hai bên đường Láng-Hòa Lạc (Hà Tây), khu công nghiệp Đồng Văn (Hà Nam), Như Quỳnh (Hưng Yên), Tiên Sơn (Bắc Ninh)...
Theo đánh giá của ông Nguyễn Quốc Triệu, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, mối quan hệ giữa Hà Nội và các tỉnh, thành bạn mới chỉ dừng lại ở mức hợp tác song phương trên cơ sở khai thác "lợi thế so sánh" của mỗi địa phương, chưa tạo được chuyển biến mạnh trong vùng. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra trước mắt là cần có sự đánh giá hiện trạng về phát triển không gian, kinh tế xã hội của mỗi tỉnh trong vùng để tìm ra giải pháp hợp lý, đáp ứng cơ cấu kinh tế, xã hội của từng địa phương và cả Vùng trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với Vùng kinh tế trọng điểm và Vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mục tiêu không xa là tiến tới, Hà Nội sẽ trở thành đô thị lớn với những đô thị vệ tinh xung quanh cùng hệ thống hạ tầng được nghiên cứu đồng bộ và gắn kết.
Ban chỉ đạo dự án Quy hoạch vùng đô thị nhận định, đây đang là giai đoạn khởi đầu của đề án, Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (Bộ Xây dựng) đã hoàn thành bước điều tra phân tích đánh giá hiện trạng trên phạm vi toàn vùng để Ban chỉ đạo và lãnh đạo 8 tỉnh thành phố cùng góp ý, đề xuất những điểm cần nghiên cứu và hoàn thiện dự án. 8 địa phương trong vùng Hà Nội đã cùng nhau xác định tầm nhìn chiến lược dài hạn 20-30-50 năm, trước hết là những khu vực ưu tiên phát triển trong vòng 5-10 năm.
Ông Lưu Đức Hải - Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị nông thôn cho biết, đến cuối năm 2005 sẽ kết thúc việc xây dựng Dự án Vùng Thủ đô Hà Nội để đưa ý tưởng thành hiện thực.
Mạng kiến trúc xây dựng Việt Nam
[Trở về]
|