Về dự án Nhà máy nuớc Bắc Thăng Long -Vân Trì: Công trình không của riêng ai
 |
Nhà máy nuớc Bắc Thăng Long -Vân Trì
|
Ngày 26/11/2004, Phó chủ tịch UBND TP Ðỗ Hoàng Ân đã làm việc với chủ đầu tư và đại diện các Sở: GT-CC, Kế hoạch -đầu tư, Cty kinh doanh nước sạch số 2 bàn giải pháp đưa nhà máy nước Bắc Thăng Long -Vân Trì vào khai thác sử dụng trong năm 2005. Cụ thể, phải xây dựng mạng truyền dẫn của nhà máy nước Bắc Thăng Long - Vân Trì để cấp nước cho KCN Thăng Long trong quý I/2005.
Sau khi nghe chủ đầu tư báo cáo và ý kiến của các sở, ngành, Phó chủ tịch UBND TP Ðỗ Hoàng Ân chỉ đạo: giám đốc Sở kế hoạch - đầu tư và giám đốc BQL CDA trọng điểm phát triển đô thị Hà Nội làm việc với Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) để thông báo chỉ đạo của thành phố, tách một phần khối luợng việc của gói thầu CP2 (gồm hệ thống đường giao thông và thoát nước mưa) làm thủ tục thi công trước để phục vụ cấp nước cho KCN Thăng Long; giao chủ đầu tư làm thủ tục tách phần việc gói thầu CP2 để xây đường ống dẫn nước tới KCN Thăng Long, tổ chức thẩm duyệt phê duyệt dự toán và hoàn tất thủ tục liên quan để thi công công trình này hoàn thành trong quý I/2005.
Sở GT-CC có trách nhiệm, hướng dẫn chủ đầu tư, thực hiện các thủ tục thẩm định phê duyệt dự toán, thẩm tra thiết kế kỹ thuật và dự toán của gói thầu, hoàn thành trong thời hạn 10 ngày; chỉ đạo Cty Kinh doanh nước sạch số 2 tổ chức thực hiện dự án phần đường ống cấp nước từ đường ống truyền dẫn đến tường rào KCN Thăng Long, kinh phí thực hiện lấy từ nguồn vốn khấu hao để lại cho doanh nghiệp hàng năm. Sở GT-CC nghiên cứu lập dự án xây dựng mạng lưới truyền dẫn từ Nhà máy cấp nước của dự án phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì theo quy hoạch để cấp nước cho các khu vực sản xuất và dân cư xung quanh; bổ cập cho cả khu vực Nam Thăng Long, báo cáo thành phố trong tháng 12/2004.
Giao Sở GT-CC giám sát việc bàn giao nhà máy cấp nước giữa BQL CDA trọng điểm phát triển đô thị Hà Nội với Cty Kinh doanh nước sạch số 2, xong trước ngày 15/12/2004.
Ðể phát triển các khu đô thị và khu công nghiệp mới khu vực phía bắc sông Hồng theo quy hoạch phát triển Thủ đô đến năm 2020, ngày 20-2-2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì, nằm trên địa bàn xã Kim Chung, huyện Ðông Anh. Chủ đầu tư dự án là Ban Quản lý các dự án trọng điểm phát triển hạ tầng đô thị thành phố Hà Nội (BQL CDA).
Dự án bao gồm bốn gói thầu, trong đó gói thầu số 1 xây dựng nhà máy cấp nước có công suất 50 nghìn m3/ngày đêm, giai đoạn 1 có công suất 24.400 m3/ngày đêm cung cấp nước sạch sinh hoạt cho khu công nghiệp và khu đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 260 tỷ đồng, trong đó một tỷ 777 triệu yên là vốn vay của Chính phủ Nhật Bản và 65 tỷ đồng là vốn đối ứng trong nước. Ðơn vị thi công là liên danh Công ty Ebara và Taisei (Nhật Bản).
Sau hơn 2 năm thi công, Nhà máy cấp nước Bắc Thăng Long - Vân Trì, đã cơ bản hoàn thành. UBND TP đã chỉ đạo chủ đầu tư là BQL CDA và CTy kinh doanh nước sạch số 2 bàn giao đưa vào vận hành; lập phương án làm đường ống dẫn nước vào KCN Thăng Long và các hạng mục liên quan... Tuy nhiên, đến nay Dự án Nhà máy nước Bắc Thăng Long - Vân Trì vẫn chưa bàn giao được cho Cty KDNS số 2 Hà Nội để đưa vào hoạt động. Một dự án rất cần cho Hà Nội chưa phát huy hiệu quả.
Bên chưa muốn tiếp nhận
Ngày 11-10-2004, Sở GT-CC đã có công văn số 1399/KHÐT-GTCC giao nhiệm vụ cho Cty Kinh doanh nước sạch số 2 phối hợp BQL CDA thực hiện việc chạy thử, nghiệm thu, tiếp nhận các hạng mục của công trình nhà máy nước (kể cả hồ sơ kỹ thuật, pháp lý); xây dựng phương án quản lý, vận hành nhà máy nước trình giám đốc Sở để báo cáo UBND TP; tổng hợp, báo cáo quá trình tiếp nhận để Sở báo cáo UBND TP cho phép nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Nhưng phía đơn vị sẽ tiếp nhận, vận hành nhà máy là Cty KDNS số 2 Hà Nội thuộc Sở GT- CC cho rằng chưa thể tiếp nhận, vận hành nhà máy cấp nước. Ông Trịnh Thanh Thuỷ, phó giám đốc Cty KDNS số 2 cho biết, tháng 7-2004, Cty được Sở GT-CC Hà Nội thông báo chuẩn bị kế hoạch tiếp nhận công trình này. Ngay sau đó, Cty đã lập kế hoạch đào tạo 29 cán bộ để tiếp nhận, vận hành nhà máy. Ðến tháng 9-2004, BQL CDA đã cho nhà máy vận hành thử 72 giờ.
Giám đốc XN nước Ðông Anh, ông Trần Quốc Hùng cho biết thêm: Chúng tôi không được tiếp nhận hồ sơ gốc liên quan đến kỹ thuật nhà máy; thiết bị của giếng đặt ở ngoài nên không an toàn khi vận hành; chưa có quyết định bàn giao; chưa có đường điện lưới; cả nhà máy chưa có đường ống cấp nước (thiếu 8,2km, chưa thi công); chưa có hệ thống thoát nước thải; đặc biệt 5 bơm phân phối trạm bơm 2 (với công suất 612m3/giờ/bơm) ra mạng đã làm sai thiết kế. Cụ thể theo phê duyệt của UBND TP là loại bơm Ebara của Nhật Bản, nhưng thực tế việc lắp đặt tại Nhà máy nước Bắc Thăng Long - Vân Trì lại là bơm Ebara Hải Dương.
Báo cáo của Cty KDNS số 2 gửi kiến nghị với UBND TP và Sở GT-CC Hà Nội cũng cho rằng, không thể vận hành nhà máy nước này được vì phát hiện ra thêm hàng loạt các vi phạm như nhà máy có công suất vận hành chạy thử chưa đạt công suất thiết kế; bể chứa, bể lắng còn nhiều điểm rò rỉ, chưa có hệ thống chiếu sáng. Riêng khu xử lý chất thải, ánh sáng không phù hợp để chống côn trùng; hệ thống giám sát, lưu giữ số liệu và bàn điều khiển trung tâm hoạt động không ổn định, chưa chính xác; đường quản lý giếng chưa có mốc chỉ giới cấp đất; mặt bằng các giếng thấp và các nhà giếng chưa có hệ thống chống sét, rào bảo vệ, cửa thông gió; hệ thống đồng hồ áp lực, van xả khí, cáp điện chưa có hộp bảo vệ chống mưa nắng...
Bên muốn bàn giao
Theo BQL CDA thì nhà máy cấp nước (CP1) thuộc Dự án phát triển cơ sở HTÐT Bắc Thăng Long- Vân Trì đã được thực hiện theo đúng các qui định trong đầu tư xây dựng cơ bản. Theo ý kiến của Cục Giám định( Bộ Xây dựng) đây là nhà máy cấp nước được xây dựng đẹp và đảm bảo kỹ thuật chất lượng. Các hồ sơ bàn giao hoàn toàn đủ, hiện còn một số hồ sơ đang được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt do Hiệp định vay vốn giữa hai chính phủ quy định ngôn ngữ giao dịch là tiếng Anh. BQL CDA tiếp nhận dự án từ năm 2000 trong khi dự án được phê duyệt từ năm 1997 nên một số hồ sơ chỉ còn bản sao, do vậy BQL CDA cần thời gian để cập nhật thêm hồ sơ gốc.
Quá trình vận hành chạy thử đã diễn ra tốt đẹp, nhà thầu đã có báo cáo đầy đủ kết quả gửi các bên liên quan.
Hiện nay Nhà máy đã có nguồn điện 22KV để vận hành.
BQL CDA đã có đề nghị Cty KDNS số 2 (có báo cáo UBND TP và Sở GT-CC) tiếp nhận hồ sơ tài liệu trong khi chờ đợi bản dịch tài liệu và bổ sung một số tài liệu gốc (đã có bản phô tô), và nhận trước hiện trạng công trình để thực hiện công tác bảo vệ; để phía nhà thầu Nhật Bản rút ra khỏi công trình, tiết kiệm những phát sinh chi phí cho chuyên gia.
Theo hợp đồng được duyệt, các máy bơm được lắp đặt là máy bơm EBARA sản xuất tại Nhật Bản hoặc Hải Dương; Theo quy định hiện hành, trong hồ sơ thiết kế và văn bản thẩm định không được nêu đích danh nhà sản xuất của các thiết bị để tránh tình trạng độc quyền, ép giá eủa nhà sản xuất. Sau khi ký hợp đồng tháng 4-2002 các nhà thầu đã đặt hàng sản xuất máy bơm theo đúng hợp đồng và lựa chọn nhà sản xuất là EâBARA Hải Dương vì tiến độ nhập hàng được rút ngắn, chất lượng bơm Việt Nam bảo đảm. Ðến tháng 6/2003, UBND TP có quyết định phê duyệt TKKT trong đó nêu “máy bơm sản xuất tại Nhật Bản”. Sau khi có quyết định nêu trên, BQL CDA đã yêu cầu nhà thầu thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của UBND TP. Tuy nhà thầu đã đặt hàng với EBARA Hải Dương, BQL CDA vẫn cương quyết đề nghị thay thế bằng máy bơm sản xuất tại Nhật Bản. Ðến nay, nhà thầu đã đặt hàng máy bơm tại Nhật Bản và cam kết hoàn thành việc lắp đặt thay thế năm máy bơm vào giữa tháng 3-2005 (do thời gian đặt hàng sản xuất và các thủ tục nhập khẩu về Việt Nam).
Cùng tháo gỡ, đừng để lãng phí tiếp
8/11 kiến nghị của Cty KDNS số 2 về bổ sung các hạng mục đã được giải quyết trong tháng 10/20ã04 (kể cả kiến nghị không nằm trong hợp đồng cũng như thiết kế được duyệt), còn lại 03 kiến nghị nằm ngoài hợp đồng và thiết kế được duyệt là bổ sung khung bảo vệ cửa thông gió, bổ sung hộp bảo vệ che mưa các thiết bị ngoài trời, màu sắc của đèn tại khu xử lý để chống côn trùng, BQL đề nghị Cty báo cáo Sở GT-CC và thành phố giải quyết vì không thuộc thẩm quyền giải quyết của BQL CDA.
Trong khi quan điểm của Cty KDNS số 2 là chỉ xem xét việc ký hợp đồng cấp nước sau khi tiếp nhận chính thức Nhà máy và xem xét nhu cầu sử dụng nước của các hộ tiêu thụ, thì hiện nay, nhiều khách hàng là các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đóng trên địa bàn huyện đã có nhu cầu cấp bách và đề nghị ký hợp đồng sử dụng nước.
Ðể khắc phục điểm chưa hoàn chỉnh của hệ thống truyền dẫn, phân phối nước đến khách hàng, Khu CN Thăng Long là đơn vị có nhu cầu sử dụng nước đã đưa phương án đề nghị được cùng đầu tư kết hợp mạng phân phối để có nước sử dụng. Cách gỡ đã có, chỉ còn cần phải có ý kiến của phía đối tác Nhật Bản. Chỉ cần khối lượng đường ống không lớn là nước sạch sẽ đến được địa chỉ cần đến. Ðồng thời, khi nhu cầu sử dụng nước của các khách hàng trong KCN còn ít, các KÐTM còn đang dần hình thành, nên tính đến phương án truyền dẫn nước từ Ðông Anh về nội thành, bổ sung 20 nghìn m3 nước/ngày đêm cho các khu dân cư mới dọc theo đường vành đai 3 của thành phố để hệ thống cấp nước mới này sớm được đưa vào sử dụng.
Nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt ở Hà Nội luôn trong tình trạng không đáp ứng đủ nhu cầu. Trong khi đó, nhà máy nước Bắc Thăng Long - Vân Trì có công suất lớn, hiện đại lại vẫn còn đang bị đưa đẩy giữa các đơn vị hữu trách. Công trình này không phải của riêng ai, xin hãy hợp tác cùng nhau thực thi chỉ đạo của UBND TP để nhanh chóng đưa nhà máy vào hoạt động, cải thiện việc cấp nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân, tránh tiếp tục lãng phí lớn.
(Theo Hanoinet)
Mạng kiến trúc xây dựng Việt Nam
[Trở về]
|